Sơ cứu và chăm sóc vết thương phần mềm

Trong cuộc sống hàng ngày, cũng như trong mỗi chuyến du lịch thám hiểm, chuyến “phượt” vui vẻ nào đó, chúng ta không ai có thể biết chắc chắn chuyện gì đang chờ ta phía trước. Do đó việc chuẩn bị kiến thức cũng như những phương tiện thiết yếu để không bị động trước những tai nạn xảy ra là điều vô cùng cần thiết. Có kiến thức, có phương tiện, chắc chắn mọi nỗi đau sẽ được giảm nhẹ, mọị thương tích được xử lý đúng sẽ giúp ích rất nhiều cho quá trình bình phục.

Đa số các tai nạn xảy ra dù tại nhà hay trên đường…đều có thể gây tổn thương phần mềm tức là da, cơ, gân…của cơ thể.

Vết thương là gì? đó là sự mất đi tính toàn vẹn của da và tổ chức dưới da hoặc các tổ chức khác của cơ thể. Vết thương có thể là vết thương kín hoặc vết thương hở.

Vết thương kín (vết thương bên trong) là loại vết thương để cho máu thoát ra ngoài hệ thống mạch máu nhưng không chảy ra khỏi cơ thể. Loại này bao gồm: bầm tím, tụ máu dưới da hoặc có thể không có dấu tích ở bên ngoài.

Vết thương hở (vết thương bên ngoài) là loại vết thương để cho máu chảy ra khỏi cơ thể. Loại này bao gồm: các vết trích rạch, vết thương đâm xuyên hoặc thậm chí là vết trượt sây sát trên da.

Trên thực tế có nhiều vết thương vừa là vết thương kín vừa là vết thương hở.

Mục đích chính của việc cấp cứu và chǎm sóc cấp cứu một vết thương là:

– Cầm máu hoặc khống chế sự chảy máu

– Phòng hoặc điều trị sốc (sốc do đau, do hoảng hốt quá mức hoặc do mất máu)

– Duy trì các chức nǎng sinh tồn (giúp nạn nhân thở và lưu thông tuần hoàn)

– Tránh các biến chứng (đặc biệt là giảm nguy cơ nhiễm khuẩn)

1. SƠ CỨU VÀ CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG PHẦN MỀM

Nếu vết thương chảy nhiều máu phải tiến hành xứ trí cầm máu ngay

1.1 Vết thương nhỏ:

1.1.1. Đối với vết thương bể mặt nhỏ

Vết thương bề mặt nhỏ là vết thương chỉ làm tổn thương những lớp bề mặt của da nên chỉ cần rửa loại vết thương này bằng nước chín hoặc nước tinh khiết, nếu có nước muối là tốt nhất .

Nếu vết thương quá bẩn phải rửa bằng nước xà phòng.

– Khi rửa vết thương phải:

+ Rửa tay kỹ trước khi bắt đầu

+ Nếu phải dùng dụng cụ như cái kẹp, cái nhíp để gắp những hạt sạn, sỏi… ra khỏi vết thương thì phải đun sôi dụng cụ ít nhất là 5 phút hoặc ngâm bằng các dung dịch sát khuẩn như cồn, oxy già.

+ Sau khi rửa vết thương, nếu có điều kiện thì dùng dung dịch sát khuẩn để sát khuẩn xung quanh vết thương rồi dùng gạc vô khuẩn đặt lên trên vết thương, sau đó dùng bǎng dính hoặc bǎng cuộn bǎng lại. Nếu không có điều kiện thì gấp một miếng vải càng sạch càng tốt để đặt lên trên vết thương rồi cũng dùng bǎng đính hoặc bǎng cuộn bǎng lại.

+ Nếu vết thương ở tay hoặc chân thì luôn nâng cao vết thương bằng dây đeo hoặc gối kê.

1.1.2. Đối với vết thương bề mặt rộng và sâu hơn.

Để vết thương liền nhanh hơn thì có thể đóng kín hoặc khâu vết thương lại. Nhưng chỉ đóng kín miệng một vết thương bề mặt sâu và rộng trong những điều kiện sau đây:

– Vết thương xảy ra chưa quá 12 giờ.

– Đảm bảo chắc chắn rằng vết thương không còn đất cát hoặc dị vật ẩn náu trong đó.

– Không có khả nǎng tìm được cán bộ y tế chuyên khoa hoặc chuyên môn ca hơn và cũng không thể chuyển nạn nhân tới bệnh viện được.

Các phương pháp đóng kín miệng vết thương:

Phương pháp dùng bǎng dính: phương pháp này áp dụng cho những vết thương mà mép vết thương gần sát nhau.

Khi dùng bǎng dính để đóng kín vết thương nên cắt bǎng dính thành hình con bướm. Có loại bang dính chuyên dụng để khép mép vết thương.

1.2. Vết thương lớn.

Đối với vết thương lớn sau khi xử trí cầm máu có thể rửa xung quanh vết thương bằng dung dịch sát khuẩn hoặc bằng nước chín.

Chỉ lấy dị vật hoặc bụi bẩn ra khỏi vết thương khi có thể lấy ra dễ dàng. Không được thǎm dò vết thương.

Sau đó bǎng bó vết thương rồi chuyển ngay nạn nhân tới cơ sở điều trị càng sớm càng tốt.

Trong khi chờ đợi và trên đường vận chuyển phải theo dõi sát nạn nhân. Giữ nạn nhân ở tư thế đúng, phòng chống và xử trí ngay nếu sốc xảy ra.

Chú ý: nếu có thể nên cố định vết thương vào phần không bị tổn thương của cơ thể và nâng cao vết thương, ví dụ: treo tay bị thương vào ngực, cố định chân bị tổn thương vào chân lành…

2. SƠ CỨU – CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG BỤNG

Một vết thương sâu ở thành bụng là rất nguy hiểm không phải chỉ vì sự chảy máu ngoài mà còn vì những cơ quan bên trong cơ thể bị thủng, rách hoặc gây chảy máu trong và nhiễm khuẩn. Một phần của ruột có thể bị lòi ra khỏi thành bụng.

2.1. Dấu hiệu và triệu chứng.

– Đau khắp ổ bụng

– Chảy máu từ vết thương ở vùng bụng

– Có thể nhìn thấy một phần của ruột hoặc một phần ruột đang lòi ra khỏi vết thương

– Nạn nhân có thể bị nôn

– Có thể có dấu hiệu và triệu chứng của sốc.

2.2. Xử trí cấp cứu.

2.2.1. Mục đích:

Hạn chế nhiễm khuẩn và khống chế chảy máu, trong khi xử trí tránh để ruột bị lòi ra ngoài: Thu xếp chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.

2.2.2. Hành động

a) Trường hợp ruột chưa bị lòi ra ngoài

– Khống chế sự chảy máu bằng cách ép thận trọng các mép vết thương với nhau.

– Đặt nạn nhân ở tư thế nửa nằm nửa ngồi chống 2 chân để tránh hở vết thương và giảm áp lực lên vùng bị thương. Dùng gối đệm hoặc quần áo gấp lại để đỡ vai, đầu và dưới khoeo chân.

– Đặt một miếng gạc trùm lên vết thương rồi dùng bǎng cuộn hoặc bǎng dính bǎng vết thương lại.

– Nếu nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường thì đặt nạn nhân ở tư thế hồi phục có gối hoặc đệm đỡ vùng bụng.

– Nếu nạn nhân ngừng thở ngừng tim thì tiến hành hồi sức hô hấp tuần hoàn ngay.

– Phòng chống và xử trí sốc : động viên, giảm đau…

* Chú ý: Không cho nạn nhân ǎn uống bất cứ một thứ gì.

– Kiểm tra tần số hô hấp và mạch 10 phút/lần. Phát hiện kịp thời dấu hiệu chảy máu trong.

– Nếu nạn nhân ho hoặc nôn thì dùng tay áp nhẹ lên vùng vết thủng để tránh ruột bị lòi ra ngoài vì lúc ho và nôn là lúc áp lực ổ bụng tăng, sẽ đẩy phần ruột ra ngoài vết thương.

– Chuyển nạn nhân tới bệnh viện ngay. Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên. Trong quá trình vận chuyển phải tiếp tục theo dõi sát và xử trí những diễn biến xảy ra.

b) Trong trường hợp một phần ruột bị lòi ra ngoài

– Khống chế sự chảy máu nhưng tránh dùng áp lực ép trực tiếp mạnh quá.

– Không chạm vào vết thương, không được đẩy ruột vào trong.

– Đặt một miếng gạc nhỏ hoặc vải tẩm nước muối hoặc nước muối ǎn tự pha trùm lên vết thương rồi bǎng lỏng lại. Phải thường xuyên làm ẩm vết thương bằng dung dịch này. Cách pha dung dịch nước muối: cho 1 thìa cà phê muối ǎn vào 1 lít nước chín. Hoặc có thể dùng vành khǎn hay một cái bát đã luộc để nguội để úp lên vùng bị thương rồi dùng bǎng cuộn bǎng lại.

– Nếu nạn nhân ho hoặc nôn thì cũng dùng tay áp lên vết thương để tránh ruột bị lòi thêm ra ngoài.

– Đặt nạn nhân nằm và tiến hành chǎm sóc cấp cứu như trường hợp ruột không bị lòi ra ngoài.